3-1: NGÀY ỐNG HÚT THẾ GIỚI

Từ chỗ là ngày kỷ niệm của một trong những đồ vật nhỏ thay đổi toàn bộ cách thưởng thức đồ uống của thế giới, ngày Ống hút thế giới năm nay đánh dấu mức độ quan ngại lớn trên quy mô toàn cầu về ô nhiệm nhựa mà ống hút là một trong những nguyên nhân chính.

Ngày 3-1-1888 Marvin C. Stone là người đầu tiên trên thế giới đăng ký bản quyền cho loại ống hút bằng giấy. Ống hút này được Marvin C. Stone phát minh bằng cách cuốn giấy quanh một cây bút chì và dán bằng keo. Stone làm ống hút vì trước đó khi ông uống một loại rượu bạc hà bằng ống rơm lúa mạch và rượu có lẫn hương lúa mạch làm ông thất vọng.

Sau khi làm ống hút giấy, Stone cải tiến bằng cách tạo ra một cỗ máy phủ lên bề mặt giấy một chất phủ chống nước. Kể từ đó đến nay, có đến hàng ngàn loại đồ uống khác nhau mà chúng ta phải dúng đến ống hút từ rượu, nước cam, chanh, coca hay sinh tố. Thật khó có thể tưởng tượng không có ống hút trong đời sống hàng ngày của chúng ta.

Nhưng ống hút cũng có mặt trái của nó, khi mà ngày nay gần như 100% ống hút tiêu thụ trên thế giới được chế tạo bằng nhựa.

Mỗi ngày người Mỹ tiêu thụ đến 400 triệu ống hút nhựa, con số này của Anh là 4,4 tỉ ống hút nhựa/năm bị thải ra môi trường. VN là một trong 5 quốc gia có lượng rác thải nhựa ra môi trường nhiều nhất, trong đó ống hút nhựa chưa có thống kê nhưng cũng đóng góp một vai trò quan trọng.

Ống hút nhựa đứng thứ 11 trong số rác thải được tìm thấy ngoài đại dương và phải mất 200 năm  để một ống nhựa có thể phân hủy hoàn toàn ngoài tự nhiên.

Hẳn nhiều người trong số chúng ta đã thấy hình ảnh một con cá voi chết dạt vào bờ với cái bụng đầy chất thải nhựa, hay video người ra phải dùng kìm và rất vất vả rút ra từ mũi một con rùa chiếc ống nhựa cứng.

Việc sử dụng ống hút bằng tự nhiên đã được người Summerians sử dụng hàng ngàn năm trước để thưởng thức các loại bia của họ. Ngày đó, ống hút thường được dùng bằng rơm từ cây lúa mì (straw) để tránh uống phải cặn bia dưới đáy cốc. Nhiều bằng chứng khảo cổ cũng cho thấy một số dân tộc khác cũng dùng các loại ống hút tự nhiên làm từ cỏ cây để thưởng thức đồ uống, hoặc ống hút làm bằng kim loại.

Và thật bất ngờ, những ống hút này không hề mới mẻ, và thực tế đó chỉ là cách mà chúng ta quay lại với cách làm của tổ tiên loài người đã dùng hàng ngàn năm qua.Nhiều mô hình phát triển và kinh doanh ống hút thân thiện với môi trường đang được người tiêu dùng ủng hộ.

Vì vậy, thay vì 3-1 là ngày để kỷ niệm một trong những phát minh hữu ích với nền ẩm thực của thế giới, năm nay chúng ta hãy dùng ngày này để nghĩ đến việc hạn chế sử dụng ống hút nhựa, chuyển sang dùng các loại ống hút thân thiện với môi trường như ống hút làm từ tre hay cỏ.

VẺ ĐẸP CỦA THẤT BẠI

Ngày doanh nhân 13-10, mọi người chúc mừng các doanh nhân, và thường là các doanh nhân thành đạt. Riêng tôi hôm nay dành một chút tình cảm cho những doanh nhân không thành công, những doanh nhân đã thất bại và chưa từng có cơ hội để nhiều người biết đến hoặc đã từng biết đến nhưng đã trôi vào dĩ vãng.

Chỉ ít ngày trước 13-10, tôi phỏng vấn gần chục doanh nhân. Điểm chung của họ đều là doanh nhân đang thành đạt nhưng rất trăn trở và đầy ầu lo về tương lai. Họ nói về nghề doanh nhân như một công việc rủi ro nhất không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn là hạnh phúc gia đình và cuộc sống của chính họ.

Ngay tại những quốc gia phát triển nơi môi trường kinh doanh minh bạch và thuận lợi, tỉ lệ doanh nghiệp thất bại cũng lên đến trên 95% sau 5 năm. Nhưng hơn lúc nào hết, ở VN cũng như trên quy mô toàn cầu đang có nhiều người bắt đầu khởi sự kinh doanh.

Biết là rủi ro, mạo hiểm nhưng họ vẫn dấn thân vì mong muốn giải quyết một vấn đề nào đó của xã hội từ làm một bó rau sạch cho người tiêu dùng hay chế tạo tên lửa khám phá không gian, từ làm một ống hút tre thay thế ống hút nhựa đến chế tạo xe hơi điện.

Những ước mơ đẹp hiếm khi có kết quả mỹ mãn. Đa số họ sẽ thất bại trên con đường khởi nghiệp. Một số người trong đó thành công trở thành người thay đổi cuộc chơi và tiễn đưa nhiều người hùng kinh doanh kiểu cũ về quê.

Cái đẹp của thất bại, như một doanh nhân đã nói, là được làm điều mình thích, đam mê và cạnh tranh sòng phẳng với những doanh nghiệp hàng đầu khắp thế giới. Và thất bại không có nghĩa là chấm hết vì cuộc đời luôn có những cơ hội khác.

Sự thất bại của các công ty khởi nghiệp hay các mô hình kinh doanh cũ cũng có ý nghĩa lớn lao cho xã hội nhưng ít khi được ghi nhận. Những doanh nhân hay doanh nghiệp đó đã trả học phí để những doanh nghiệp khác tránh rủi ro và sai lầm. Và nhiều mô hình kinh doanh mới mang tên đao to búa lớn kiểu “phá hủy” thực tế là được ươm mầm từ những mô hình kinh doanh hiện hữu.

Nhưng có những lời khuyên của các doanh nhân thực sự đáng giá. Đừng thất bại vì không chuẩn bị hãy thất bại khi đã cố gắng hết sức. Đừng khởi nghiệp theo phong trào mà hãy tích lũy kinh nghiệm và trải nghiệm các vị trí khác nhau. Bạn không thể làm người sếp giỏi nếu không trải nghiệm qua vị trí của một người lao động.

Cảm ơn những doanh nhân!

SẼ ĐẾN LÚC DÂN YÊU CẦU XÂY NHÀ HÁT GIAO HƯỞNG

Khi đến thăm một thành phố nào đó, bạn sẽ tới các công trình biểu tượng như bảo tàng, nhà hát, nhà thờ… Một thành phố luôn cần có những công trình tầm cỡ như vậy.

Cả TP.HCM có khoảng chục bảo tàng, phân nửa trong số đó là bảo tàng liên quan đến chiến tranh. Cần thêm nhiều bảo tàng về các lĩnh vực khác nữa.

TP.HCM chắc cũng có khoảng chừng đó các nhà hát. Ngoài nhà hát lớn, các nhà hát kia có đủ quy mô để gọi là biểu tượng chưa? (Cái này mù tịt vì không phải sở thích nên không đến mấy chỗ đó).

Thủ Thiêm là một trung tâm mới của thành phố, việc có thêm một nhà hát tầm cỡ cũng là điều hợp lý.

Nhưng thành phố cũng cần có thêm nhiều bệnh viện để người lớn và trẻ em khỏi phải chen chúc nhau. Thành phố cần những con đường không ngập nước để dân chúng đi làm về đỡ phải bơi. Thành phố cần những dự án nhà ở xã hội để người nghèo có chỗ che nắng che mưa.

“Thành phố HCM văn minh, hiện đại, nghĩa tình” là khẩu hiệu mình hay được nghe mấy bác quan chức phát biểu trên tivi. Văn minh và nghĩa tình tức là vì con người, vì nhiều người.

Đại đa số (hi vọng không bị bắt show số liệu thống kê) người dân đang cần bệnh viện, nhà ở và những con đường không ngập nước. Có những thứ đó rồi, họ mới nghĩ đến chuyện có nên vào nhà hát xem giao hưởng hay không.

Nguồn lực của thành phố có giới hạn mà mong muốn thì nhiều. Nhiệm kỳ có 5 năm mà ước mơ thì quá lớn. Hi vọng, thành phố sẽ chọn vì đa số người dân hợn là 1.700 chỗ ngồi trong nhà hát giao hưởng.

Nhà hát cũng cần đấy. Nhưng hãy quy hoạch một lô đất cho nó và để đấy. Sẽ đến một ngày người dân sẽ yêu cầu chính quyền thành phố phải xây dựng một nhà hát tầm cỡ.

NIỀM VUI VỚI RAU ĐÃ QUA

Đó là câu đầu tiên trong một status mà tôi đọc được khi lướt trên tường facebook của mình. Của một người vì một lý do nào đó đã nằm trong danh sách friend của tôi dù tôi không biết bạn ấy ngoài đời. Đó là câu đầu tiên của lời rao bán đất sau hơn một năm làm nông nghiệp mà nói theo phong trào bây giờ là khởi nghiệp nông nghiệp.

Bạn nói rằng đã mệt mỏi rồi, giờ chỉ cần bán nhanh đất để tập trung vào kế hoạch khác. Đất có vị trí tốt, thích hợp với việc trồng rau và sau này có cơ hội tăng giá vì quá trình đô thị hóa. Lời rao bán nghe mà buồn man mác, và tôi hiểu được cảm giác đó. Hiểu được cảm giác của bạn chỉ cách đó vài năm thôi đang hừng hực khí thế, đầy ắp đam mê, quyết tâm làm nông nghiệp sạch. Có thể bạn bắt đầu bằng một sự bức xúc cá nhân không tìm rau sạch để nấu ăn, từ một cơ hội khi thị trường thiếu rau sạch, hay có thể đơn giản chỉ là một công việc mới để cuộc sống thêm ý nghĩa. Và mình cũng hiểu cảm giác của người muốn bỏ cuộc nữa.

Mới đây trong sự kiện kết nối nông nghiệp, một bạn làm nông theo phương thức thuận tự nhiên cho biết đợi chờ mấy năm nhưng chưa thấy thành quả mà vốn thì đã cạn rồi. Đam mê thì vẫn còn nhưng tiền thì hết, cây cũng phải đợi 2-3 năm nữa mới cho thu hoạch như mong muốn.

Có nhiều người đầu tư vào nông nghiệp rồi lặng lẽ rút lui. Không rõ có lĩnh vực nào mà đam mê bị thực tế nó đập cho tơi tả như làm nông nghiệp hay không. Nếu xem trên TV, bạn thấy người nông dân cuốc đất hay nhỏ cổ thật là thú vị thì khi bắt tay vào làm sẽ thấy nó chẳng thú vị tí nào. Quản lý công nhân đã khó, quản lý nông dân còn khó hơn. Thời tiết, sâu bệnh, hao hủy khi mới bắt đầu là tất yếu.

Rồi làm xong bán cho ai. Ai sẵn sàng trả giá cao cho những sản phẩm chúng ta dồn tâm huyết làm ra. Những câu hỏi liệu có tin được không, có mua giấy tờ không, có trộn hàng đểu vào không… làm mình đau xót. Nhiều lúc bạn tự hỏi, chúng ta hi sinh nhiều thứ vậy vì điều gì, để nhận những lời chua xót đó sao?

Những người bạn like và thả tim nhiệt tình khi mình đăng status sẽ bỏ phố về vườn vơi đi một nửa sau vài lần mua hàng. Những người thể hiện sự ngưỡng mộ với mình, sống chết đòi lên thăm farm khi mình đăng cảnh trồng rau cũng thưa thớt. Cũng chẳng trách được họ, không phải ai cũng có tiền mua mớ rau giá cao. Và thời đại hàng hóa thừa thãi, người ta có quyền lựa chọn chứ ép sao được. Và một mảnh vườn nhỏ thì sao trồng được đủ loại cho nhu cầu đa dạng trong bữa ăn hàng ngày của người ta. Đợi chờ mình vài tuần vài tháng thì được, chứ lâu hơn người ta phải mua chỗ khác. Và sự tiện lợi sẽ chiến thắng.

Nông nghiệp không hề đơn giản. Có làm rồi mới thấm thía câu ca dao của người xưa:

“Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

c

Nông nghiệp là làm với các thực thể sống. Chúng cần ăn uống, cần hít thở để lớn lên, cần ánh sáng, không gian để thỏa mãn những tập tính loài của chúng. Và tất nhiên, trong mối tương tác ấy, chúng gặp đủ các loại mầm bệnh và dẫn đến bệnh, và có thể chết.

Nếu đầu tư vào lò làm bún, bạn sẽ biết với 10kg gạo sẽ cho ra 20 kg bún tươi. Chắc chắn bạn sẽ được chừng đó. Nhưng gieo 100 m2 rau bạn có thể có 200 kg rau, cũng có thể 40 kg rau hay cũng có thể mất trắng.

Đã có những nhà máy nông nghiệp có thể kiểm soát được mọi thứ đầu vào để trồng một cái cây xà lách mà như sản xuất một cái bánh gạo. Nhưng đó là một câu chuyện khác của nông nghiệp. Còn đã làm nông nghiệp thuận tự nhiên, nông nghiệp hữu cơ thì không thể thoát khỏi các tác động của môi trường.

Nông nhàn vẫn là một giấc mơ xa xôi. Thôi thì vạn sự tùy duyên. Bắt đầu rồi cũng có lúc kết thúc. Ít ra bạn cũng trải nghiệm qua cuộc sống của những nông dân, trải qua nghề nghiệp lâu đời nhất trên trái đất, và ý nghĩa nhất trên trái đất nữa.

Niềm vui với rau đã qua rồi ….

SỮA VÀ SỮA HỌC ĐƯỜNG

Nếu để ý thì cách đây khoảng 4-5 năm, cách quảng cáo của các hãng sữa đã có thay đổi đáng kể. Khi con tôi mới ra đời, trên TV tràn ngập quảng cáo sữa với đủ các thông điệp đưa sữa lên thành một loại thức ăn thần thánh. Nghĩa là sữa có thể biến một em bé còi cọc, ốm yếu thành cao lớn, biến một em bé chậm chạp, khép mình thành nhanh nhẹn, hòa đồng, biến một em bé từ bình thường thành thần đồng với chỉ số IQ cao vút.

Đúng là những thứ khát khao và ước ao của các bậc cha mẹ. Dù hoàn cảnh gia đình thế nào, xuất thân ra sao, ai cũng muốn mình trở thành cha mẹ của một thiên tài. Và nhất là với giá sữa cũng không quá đắt so với thu nhập nữa, sữa đương nhiên là lựa chọn không thể thiếu và không có nó cho con, hẳn là các bậc cha mẹ sẽ vô cùng áy nay.

Sau đó, phong trào cho bé bú mẹ và hàng loạt thông tin độc hại về sữa, về ngành công nghiệp sữa đã tạo ra một phong trào chống sữa bò mạnh mẽ. Tất nhiên, những thông tin như thế có đúng, có sai, có cái cần thêm nghiên cứu… nhưng người ta đang dần đi đến một quan niệm rằng sữa bò chẳng phải là thuốc tiên có thể xử lý tất cả mọi việc cho con và những ước mơ của cha mẹ.

Thông điệp quảng cáo sữa cũng dần bỏ đi những cụm từ đưa trẻ trở siêu nhân nữa mà thay vào đó là những thứ đơn giản và gần gũi với cuộc sống hơn. Sữa trở thành một chất bổ sung cho dinh dưỡng hàng ngày, và nhiều quảng cáo còn chỉ nhấn mạnh vào các chất cho thêm vào sữa chứ không phải bản thân sữa nữa. Gần nhất là những thông điệp về nguồn gốc sữa trong lành, sạch sẽ không kháng sinh, hormone, bảo quản… trong sữa hữu cơ.

Từ thức uống thần thánh, sữa bò trở về thành một loại thực phẩm khá bình thường như thịt, cá, rau, đậu… Và quả thực, bây giờ từ thành thị về nông thôn, người ta có thể dễ dàng mua được một hộp sữa bò hơn là một túi rau xà lách hay một trái bơ.

Nhưng do ảnh hưởng của những năm thiếu thốn và các thông điệp mạnh mẽ trước đó, các bậc cha mẹ vẫn coi sữa là một thực phẩm “đẳng cấp” cao hơn so với các thực phẩm khác.

Nếu sữa bò chỉ là một loại thực phẩm thông thường, một loại thực phẩm bổ sung thế thì cần gì đến chương trình sữa học đường nữa?

Thật vô lý khi bắt các cháu bé phải uống một loại sữa ở trường khi có cháu không cần. Có thể ở nhà học sinh đã được uống nhiều sữa rồi, và nhiều bậc cha mẹ có nhiều tiền cho con uống sữa tốt hơn loại sữa chương trình trợ giá. Họ không muốn con họ gặp rủi ro hay nguy cơ gì với những loại sữa ấy.

Có nhiều học sinh không uống được sữa bò, thay vào đó các bé uống sữa hạt. Đó là lựa chọn cá nhân, không thể ép các bé uống sữa bò thay cho sữa hạt ở trường được.

Bắt đầu của sữa học đường là để giải quyết vấn đề suy dinh dưỡng của học sinh. Nhưng ngày nay, vấn đề về thừa cân, thừa dinh dưỡng cũng lớn như vấn đề thiếu dinh dưỡng. Nhất là chương trình sữa học đường đang được Hà Nội đẩy mạnh, nơi mà học sinh quá dễ dàng tiếp cận với sữa ở nhà.

Vì vậy, nếu coi sữa là một thực phẩm bổ sung, hãy để cha mẹ và học sinh tự quyết định xem con em họ sẽ dùng loại sữa nào cho phù hợp với khả năng và nhu cầu cụ thể. Nhà trường hay Sở Y tế không nên đi làm thay việc bán sữa cho các công ty, cũng không áp đặt rằng mọi học sinh phải uống sữa vì bất cứ lý do cao quý nào.

HÀ NỘI VÀ CÁCH MẠNG THỊT CHÓ

Cứ ngỡ ra HN sẽ lạc vào không gian cách mạng thịt chó. Nhưng không, Hà Nội vẫn êm đềm cổ kính và mờ sương khói như 20 năm trước khi tôi lần đầu tới Thủ đô. Có cái khác sương khói 20 năm trước là màu của thời gian còn nay là màu của khói bụi.

Tuần qua dân ta xôn xao vì quy định cấm thịt chó ở HN. Tinh thần bảo vệ động vật của dân ta lên nhanh quá. Hồi mới ra trường tôi đi làm cho tổ chức bảo vệ động vật hoang dã, hồi đó dân mình vẫn coi thịt rừng là đặc sản. Anh em còn kể chuyện vui ở hội nghị phòng chống buôn bán động vật hoang dã, đồng chí to nhất lên kết luận nào là thú rừng đang tuyệt chủng, tầm quan trọng của bảo tồn, gìn giữ cho tương lai… Sau đó đồng chí nói hội nghị đã thành công tốt đẹp, mời đại biểu di chuyển đến quán thịt rừng gần đó ăn trưa.

Tôi hỏi bạn tôi về phong trào cấm thịt chó, nó bĩu môi bảo không muốn nói. Giá mà người ta bảo vệ động vật hoang dã như chó thì đỡ biết mấy.

Nhân vụ thịt chó thì hôm rồi đọc vài viết “Não chó có cấu tạo tương tự não người, ăn thịt chó là ăn thịt người” trên VTC của tác giả là GSTS gì đó về nghệ thuật. Đọc hết bài thì hóa ra câu đó ko phải của bác phát minh ra mà nhớ của một GSTS khác phát biểu từ trước. Báo chí giờ mất chức năng kiểm chứng, cứ mong người ta sơ hở ra là giật tít.

Chợt nghĩ nếu não chó giống não người, thì có lý nào con chó nó cũng đang suy nghĩ về nhân tình thế thái hay không?

Biết đâu ở Đức, một con Béc giê đang nghiền ngẫm việc công lao động của loài chó bị con người lấy hết, chỉ lại cho chúng mấy cục xương bỏ đi. Nó có đang viết cuốn tư bản cho loài chó không?

Và ở đâu đó giữa châu Âu, các con chó khắp nơi đang tập hợp lại dưới khẩu hiệu chó bị ăn thịt toàn thế giới đoàn kết lại.

Tại Mỹ, một số con chó ở trong gia đình luật sư đang soạn diễn văn kêu gọi bãi bỏ tình trạng nuôi nhốt chó.

Và có lẽ là ở New York, một nhóm chó mẹ đang vận động biểu tình thông qua luật cho chó cái được tự do bầu cử và hôn nhân một vợ một chồng chứ không để chó đực chạy rông như hàng triệu năm qua được.

Tiếc là cách mạng chó đã không xảy ra vì cuộc thi hoa hậu. Nên mình chỉ biết ngồi vỉa hè, uống trà nóng nhâm nhi với kẹo lạc, kẹo dồi nhớ về một thời xa lắm.

Y ĐỨC VÀ BÍ QUYẾT TRƯỜNG THỌ CỦA NGƯỜI NHẬT

2.000 năm trước thầy thuốc Hy Lạp Hippocrates (460-375 TCN) nói rằng điều tâm niệm của bác sĩ phải luôn là “không gây tổn hại đến người bệnh”. Điều này có nghĩa là bác sĩ không được lấy lý do điều trị để bắt người bệnh phải chịu đau đớn, lạnh lùng đẩy họ vào nguy cơ đối mặt với cái chết. Sứ mệnh cao cả nhất của bác sĩ không phải là chữa trị.

Gần đây tôi đọc cuốn sách “Bí quyết trường thọ của người Nhật” của bác sĩ Shigeaki Hinohara, người được coi là huyền thoại y học Nhật Bản. Đó là một tập hợp các bài viết của bác sĩ Shigeaki Hinohara về những trải nghiệm và triết lý của cá nhân ông với cuộc sống, với con người, với công việc.


Bác sĩ Shigeaki Hinohara

Tôi rất ấn tượng những bài viết của bác sĩ Shigeaki Hinohara về ngành y, về bác sĩ. Ông nói rằng nền y học Nhật Bản đang dựa quá nhiều vào xét nghiệm và ít có sự tương tác giữa bác sĩ và bệnh nhân.

Là bác sĩ nhưng ông khuyên người ta không nên tin tưởng tuyệt đối vào bác sĩ. Nhất nhất làm theo lời bác sĩ là thái độ bàng quan với y tế. Suy nghĩ rằng bác sĩ khám rồi thì bệnh gì cũng sẽ chữa khỏi không còn là sự tin tưởng nữa mà là sự kỳ vọng quá mức vào y tế, là yêu sách không bao giờ được đáp ứng thỏa mãn.

“Chúng ta phải thay đổi tư duy để ý thức được rằng mình phải tự bảo vệ lấy chính bản thân mình và phải học hỏi về y tế, bao gồm cả những giới hạn của nó”.


Bác sĩ Shigeaki Hinohara

Ngày nay điều trị đang rơi vào tình trạng dựa hết vào kỹ thuật. Y tế Nhật Bản đang dựa quá nhiều vào kết quả xét nghiệm trong khi trao đổi giữa bác sĩ và bệnh nhân có thể chẩn đoán đến gần 60% căn bệnh, 10% là khám tại chỗ bằng ống nghe, xem triệu chứng, 10% nữa đến từ xét nghiệm và 10% cuối cùng vẫn chưa có câu trả lời.

Xuất phát điểm của điều trị là xoa dịu bằng đôi tay ấm áp. Theo ông điều trị xuất phát từ việc thăm hỏi người bệnh nhưng không phải hễ thấy người bệnh có vẻ đau đớn là hỏi “Đau ở bả vai hay xương đòn” mà nên đặt tay và hỏi “có phải đau chỗ này không”. Hãy tìm bác sĩ biết lắng nghe người bệnh.

Bác sĩ Shigeaki Hinohara

Ông làm theo triết lý của bác sĩ William Osler, một trong những người sáng lập Khoa Y trường đại học Johns Hopkins đó là: “Y học là một nghệ thuật đặt trên nền tảng khoa học”. Khoa học đánh giá bệnh tật bằng cái nhìn tỉnh táo, khách quan nhưng nghệ thuật là chạm vào tâm hồn người bệnh bằng sự cảm nhận vi tế. Y khoa có thể đã hết cách khả thi nhưng nghệ thuật vẫn còn có thể thi triển cho đến phút cuối của người bệnh.

Bác sĩ Shigeaki Hinohara kể khi đi thăm một bệnh nhân 75 tuổi trong khu chăm sóc cuối đời ở bệnh viện Sei Luca, ông cũng làm như mọi lần là ngồi xuống bên cạnh giường cho vừa với tầm nhìn của bà, nắm tay bà và lắng nghe bà tâm sự. Chỉ có thể nhưng trong chốc lát bà từ chỗ hít thở khó khăn vì ung thư phổi nặng đã có thể trao đổi thoải mái và trong suốt thời gian nói chuyện không tỏ vẻ khó nhọc, thậm chí còn hơi mỉm cười, vì cuối cùng đã có người nghe bà trải lòng.


Bác sĩ Shigeaki Hinohara

2.000 năm trước thầy thuốc Hy Lạp Hippocrates (460-375 TCN) nói rằng điều tâm niệm của bác sĩ phải luôn là “không gây tổn hại đến người bệnh”. Điều này có nghĩa là bác sĩ không được lấy lý do điều trị để bắt người bệnh phải chịu đau đớn, lạnh lùng đẩy họ vào nguy cơ đối mặt với cái chết. Sứ mệnh cao cả nhất của bác sĩ không phải là chữa trị.

Bác sĩ không được quên rằng trước mặt mình không phải là những “bộ phận nhiễm bệnh” mà là người mắc bệnh. Phải luôn ghi nhớ rằng người bệnh trước mặt mình là người quan trọng không thể thiếu trong đời. Với nhận thức đó, chắc hẳn bác sĩ sẽ lắng nghe người bệnh nói về sự đau đớn, thống khổ của họ.

Có được những cảm xúc đó là từ những trải nghiệm cá nhân của chính mình. Khi vừa học xong năm thứ nhất Khoa Y Đại học Kyoto thì ông Shigeaki Hinohara bị lao phổi và phải nằm trên giường bệnh suốt 8 tháng trời. Khi đó ông cho rằng mình thật không may và cơ hội đã bị bỏ lỡ. Nhưng về sau ông mới nhận ra đó chính là khoảng thời gian quý báu không gì bằng đối với một bác sĩ. Bởi vì ông là một bệnh nhân, thậm chí là bệnh nặng và nằm dài hạn trong bệnh viện nên ông hiểu được cảm giác và cảm xúc của bệnh nhân mà thông cảm sâu sắc với họ. “Tôi chỉ cần nắm tay hoặc vỗ nhẹ lên vai người bệnh cũng đủ cho họ thấy được sự cảm thông”, ông viết.

Cuốn sách “Bí quyết trường thọ của người Nhật Bản” không phải là kiểu sách “10 thức ăn giúp bạn sống 100 tuổi” hay “Thực đơn hàng ngày của người Nhật sống trên 100 năm mà vẫn khỏe như thanh niên” để bạn có thể áp dụng ngay. Nhưng những lời khuyên từ thực tế của một bác sĩ thọ đến 106 tuổi (ông sinh năm 1911 và mất vào năm ngoái – 2017) vừa gần gũi nhưng cũng rất sâu sắc, và nhiều điều sẽ khiến bạn phải bất ngờ.


Sách do First News xuất bản

Tôi biết đến cuốn này qua một người bạn rất giỏi là Anh Phong, và thật tình cờ, anh ấy cũng là người dịch cuốn sách này.

Và cũng thật trùng hợp khi những ngày tôi đọc cuốn sách này lại trùng với thời điểm diễn ra sự cố ở bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi không am hiểu ngành y, và chỉ đọc thông tin qua báo chí nên không đủ để kết luận điều gì. Tôi có quen biết một số bác sĩ, và bạn tôi cũng có nhiều người đang làm bác sĩ, tôi cũng đã nộp hồ sơ thi đại học Y Hà Nội nhưng sau đó lại thôi… và nhiều bác sĩ mà tôi biết rất tốt, rất có tâm.

Nhưng quả thực, tôi cũng cảm nhận rằng có nhiều bác sĩ nhưng khi làm ở bệnh viện công thì họ khó chịu, lãnh cảm còn khi làm ở phòng khám tư thì trở nên rất nhiệt tình, chu đáo. Điều gì đã làm cho thái độ của người bác sĩ đó thay đổi nhanh đến như vậy? Vì thu nhập cao, vì môi trường làm việc hay cả hai thứ đó. Tôi không rõ. Nhưng nếu chỉ vì những tác động bên ngoài đó, thì trước khi làm bác sĩ những sinh viên trường đi, các bác sĩ thực tập và cả những bác sĩ dày dạn kinh nghiệm có được nói về bổn phận bác sĩ và bổn phận công dân của mình hay không?

Mỗi nghề nghiệp đòi hỏi có những chuẩn mực và đặc trưng riêng, có thể gọi là triết lý của nghề như người ta đang kêu gào triết lý giáo dục VN làm gì. Nhiệm vụ của bác sĩ là chữa lành cho bệnh nhân.

Nếu bác sĩ là chữa bệnh thì “thấy bệnh phải chữa” không phân biệt ở bệnh viện công hay phòng khám tư, khám cho ai cũng bình đẳng với mong muốn bệnh nhân khỏi bệnh. Tôi không đồng ý với những suy nghĩ cho rằng vì lương thấp nên khó khăn, vì nhiều bệnh nhân quá nên mệt mỏi, sinh ra cáu bẳn mất kiên nhẫn. Bác sĩ cũng như bất kỳ người nào khác chọn ngành nghề nào khác, họ luôn có lựa chọn: họ có thể từ bỏ nghề nghiệp nếu thu nhập và tưởng thưởng không xứng đáng với những gì họ cống hiến.

TÌNH NGƯỜI PHÍA SAU NHỮNG QUÁ TÁO THẦN KỲ CỦA KIMURA

Ông Kimura giờ đây đã nổi tiếng trên toàn thế giới bởi đã trồng được những trái táo không hóa chất. Đổi lại, ông mất 8 năm ròng sống trong cơ cực, khổ đau, gia đình nghèo khó, người đời chế nhạo. Nhiều mất ông đã mất niềm tin, thậm chí tìm đến cái chết.

Nhưng như người ta thường nói, không ai đi đến thành công một mình. Khi thành công người ta thường chỉ nhớ đến nhân vật chính. Nhưng để có được thành công đó là sự đóng góp của rất nhiều người khác. Bên cạnh ông Kimura có những con người đã hết lòng ủng hộ.

Đầu tiên phải kể đến người vợ của ông. Bà cũng là khởi đầu của việc ông từ bỏ trồng táo hóa chất sang trồng tự nhiên vì thể trạng mẫn cảm với thuốc trừ sâu. Mỗi lần đi phun thuốc về, bà nằm liệt giường cả tuần mới dậy nổi. Có lẽ vì vậy mà trong gần 10 năm gian khó kể từ khi vườn táo ngưng phun thuốc, chứng kiến mọi tài sản có giá trị trong nhà ra đi, đến bữa ăn cũng không đủ tươm tất, con cái không đủ điều kiện học hành, làng xóm chê trách nhưng bà vẫn nhẫn nhịn ủng hộ chồng. Những đêm ông Kimura tung chăn choàng dậy ra ngồi giữa trời vì lo lắng cho vườn táo hay đi lang thang như người mất trí, bà cũng lặng lẽ trở dậy theo sau để quan sát và đề phòng chuyện bất trắc.

Cha mẹ ruột của ông Kimura phản đối ra mặt cách trồng táo khác người của ông. Ban đầu họ phản đối, rồi dần xa lánh ông khi hết năm này đến năm khác vườn táo dường như đi vào chỗ tuyệt diệt còn gia đình Kimura ngày càng trở nên khốn quẫn. Có những lần Kimura đến nhà cha mẹ đẻ, gia đình đã đóng cửa vờ như không có ở nhà để tiếp chuyện ông. Thế nhưng, nhiều lần gia đình hết đồ ăn, sáng sớm ông Kimura tỉnh dậy mở cửa đã thấy gạo hay thực phẩm để trước cửa nhà. Đó là món quà mà cha mẹ ông lén gửi trong đêm cho những đứa cháu đang đói bụng.

Người ủng hộ rõ ràng cho kế hoạch trồng táo không hóa chất của ông Kimura chính là bố vợ của ông. Do vợ của ông Kimura là con gái đầu lòng, nên sau khi kết hôn ông không chỉ là con rể mà còn là con đỡ đầu của gia đình vợ và chuyển về đó sinh sống (kiểu ở rể của Việt Nam). Bố mẹ đẻ cho ông Kimura một mảnh ruộng còn bố vợ giao cho ông 3 mảnh ruộng của gia đình để quản lý. Là người từng làm nông nghiệp thời chiến tranh không sử dụng hóa chất nên khi ông Kimura nói về ý định trồng táo không hóa chất, bố vợ ông đã nói “Cứ thử đi”. Trong suốt những năm thất bại sau đó, bố vợ ông Kimura cũng không phản đối cách làm của con rể mà còn động viên. Để giúp đỡ gia đình, ông cũng phải kiếm việc làm thêm để có thêm thu nhập.

Ngay cả những lúc khó khăn, ông Kimura cũng không chỉ nghĩ đến vấn đề của mình mà còn tránh ảnh hưởng đến người khác. Khi những cây táo trong vườn đầy sâu là sâu khiến cho cả gia đình Kimura cố gắng cỡ nào cũng không thể bắt hết được, ông Kimura nói rằng không bắt hết được không có nghĩa là để cho chúng tự do hoành hành. Ít nhất là sâu trên những cây trồng ở ranh giới với mảnh vườn bên cạnh, dù thế nào cũng phải tiêu diệt hết. Không thể để vườn của người khác bị sâu hại được.

Và sau khi vườn táo ra hoa trở lại, người chủ vườn bên cạnh đã chặt bỏ hết  toàn bộ những cây táo ở ranh giới với vườn của ông Kimura. “Vì dù chỉ một chút, thuốc bảo vệ thực vật mình phun mà nhiễm sang vườn của anh Kimura thì việc trồng không thuốc bảo vệ thực vật thành ra vô ích”, người hàng xóm cho biết.

Cũng có những người bạn đôi lúc không trả được tiền điện, tiền nước đã bí mật trả giúp. Ngay cả người ta cửa hàng phế liệu nơi ông Kimura mua các máy móc cũ về sửa dùng trong vườn cũng nhiều lần không lấy tiền hàng. Trưởng chi nhánh ngân hàng nơi ông Kimura vay tiền có lần cũng không nhận tiền lãi vì “Anh trả hết rồi còn tiền đâu mà sống đúng không?”

Những năm đầu tiên táo cho thu hoạch, cũng như những năm sâu bệnh nhiều kích cỡ và chất lượng táo không ổn định nhưng khách hàng vẫn tin tưởng ủng hộ ông Kimura. Nhiều khách viết thư nói rằng “Táo không ngọt nên tôi phải chấm muối ăn nữa đấy” nhưng vẫn động viên ông kimura hãy cố gắng lên.

Đam mê và nỗ lực của ông Kimura thậm chí có thể đã làm cho cả những cây táo mủi lòng và người tê liệt cảm xúc phải thổn thức. Trong những thời khắc mà vườn táo có nguy cơ chết hết, và hết cách xoay sở, ông Kimura ở vườn cả ngày. Ông đi đến từng gốc táo để thì thầm nói chuyện với chúng. Sự thực là ông cầu xin những cây táo đừng có chết.

Không biết có phải vì vậy mà những cây táo cũng gắng gượng đợi cho đến khi ông Kimura tìm ra bí mật của tự nhiên. Do ngại hàng xóm nhìn thấy mình nói chuyện với các cây táo nên ông Kimura đã không nói chuyện với một hàng cây sát hàng rào. Sau những đợt sâu bệnh tàn phá, có những cây mà ông đã nói chuyện đã chết đi nhưng điều kỳ lạ là tất cả những cây ở hàng rào, nơi mà ông Kimura không nói chuyện, đều chết hết. “Chắc vì tôi ngốc quá nên cây táo mới ra quả”, sau này ông Kimura thường hay nói thế.

Sau khi chương trình vườn táo kỳ diệu của ông Kimura lên sóng đài NHK vào năm 2006, có hàng ngàn người hâm mộ điện thoại và email gửi tới tỏ lòng ngưỡng mộ. Vào một ngày có một chiếc xe hơi đến nhà ông Kimura, trên xe bước xuống 3 người đàn ông cao lớn bặm trợm. Dáng vẻ của họ làm ông Kimura e ngại, dù gì ông cũng đã đụng độ với xã hội đen hồi còn làm thêm trên thành phố và bị chúng đánh đập đến mức suýt bỏ mạng.

Ba người đàn ông tiến lại phía ông Kimura và một người đưa điện thoại ra hỏi: “Ông có thể nói điện thoại được không?”.

Đầu bên kia là một ông trùm xã hội đen. Ông ta cho biết đã xem chương trình của đài NHK và cảm thấy rất xúc động. “Tôi đã khóc khi xem chương trình”, ông trùm nói “Tôi hi vọng một ngày nào đó hai chúng ta có thể ngồi uống rượu với nhau”.

QUẢ TÁO THẦN KỲ CỦA KIMURA

Để táo không bị thâm sau khi bổ ra hay gọt vỏ, các công ty của Mỹ và Canada đã dùng công nghệ biến đổi gene. Nhưng hơn 30 năm trước, một người nông dân Nhật Bản đã làm được điều này một cách không thể tự nhiên hơn.

Không những không bị thâm mà để 4 năm không thối, chị bị héo dần đi do được trồng hoàn toàn không sử dụng phân bón và hóa chất trừ sâu bệnh, cây táo được canh tác hoàn toàn từ các nguyên lý tự nhiên.

Đó chính là những trái táo thần kỳ của Kimura trong cuốn sách cùng tên mà tôimới đọc được. Hôm nay, tôi sẽ review lại cuốn sách này cho những anh chị nào chưa được đọc. Trong phần tiếp theo, tôi sẽ viết thêm về những điều đọc và phát khóc từ những trang sách tuyệt vời này.

Ông Kimura sinh năm 1949 tại thị trấn Iwaki tỉnh Aomori trong một gia đình làm nông chính hiệu của Nhật Bản với nghề chính là trồng táo. Dù có năng khiếu và đam mê kỹ thuật, do hoàn cảnh gia đình và khi lấy vợ vào năm 22 tuổi, ông Kimura phải chọn con đường làm nông nghiệp.

Thời đó, trồng táo ở Iwaki là một nghề đem lại thu nhập khá giả cho nông dân trong vùng. Nhưng để có được vườn táo sai trĩu quả thì cần phải sử dụng rất nhiều phân bón và đặc biệt là thuốc trừ sâu. Theo ước tính của ông Kimura thì mỗi vụ táo người nông dân phải phun thuốc trừ sâu 13 lần, phun nhiều đến mức toàn bộ lá táo chuyển thành màu trắng.

Gia đình Kimura cũng không phải là ngoại lệ, họ cũng dùng rất nhiều thuốc trừ sâu và cảm thấy không có vấn đề gì dù nhiều lần đi phun thuốc về ngã lăn ra đất, thậm chí ngã lăn ra tại ruộng táo. (Nhật Bản cũng dùng phân thuốc kinh chứ không hẳn là siêu sạch như nhiều người nghĩ, nhưng bây giờ có lẽ đã khác nhiều).

Nhưng vợ của ông Kimura lại là người có thể trạng mẫn cảm với thuốc bảo vệ thực vật. Sau mỗi lần đi phun thuốc về là bà phải nằm liệt trên giường ít nhất cả tuần mới trở lại bình thường. Vì tình yêu với vợ, ông Kimura quyết định sẽ trồng táo mà không dùng thuốc.

Việc làm của ông Kimura ngay lập tức bị nông dân trong vùng, thậm chí người trong gia đình cho là “dở hơi ăn cám lợn” vì chẳng có ai lại trồng kiểu như vậy. Với nông dân trồng táo ở Iwaki, làm nông nghiệp là phải dùng phân dùng thuốc. Không dùng phân thuốc thì không thể làm nông nghiệp. Chấm hết. Giống y chang tại Việt Nam hiện nay đấy các bác ạ. Nhưng Kimura kệ, cứ làm. Làm vì vợ chứ có phải làm cho hàng xóm đâu mà nghe lời họ. Đúng là vì tình yêu người ta có thể làm bất cứ chuyện gì, mà chẳng cần phải suy nghĩ nhiều.

Cơ mà tự nhiên thì không nghĩ thế. Ngay sau khi ngưng dùng thuốc trừ sâu, vườn táo bị sâu bệnh phá tan tành. Bao nhiêu lá táo ngon lành mọc vào mùa xuân bị lũ sâu chén sạch hoặc bị bệnh làm rụng cho bằng hết. Không có lá thì làm gì có hoa. Năm đầu tiên mất trắng.

Năm thứ hai, sâu phát triển kín cả cây, cả gia đình Kimura phải dùng tay bắt sâu. Mà bắt cũng không xuể vì quá nhiều. Ông cũng dùng đủ các thể loại thực phẩm hay thảo dược mà ông nghĩ có thể đuổi sâu bệnh trong vườn của mình. Danh sách này dài cơ số gồm tỏi, ớt, đường, tiêu, xì dầu, tương miso, muối, sữa, rượu, tinh bột gạo, bột mì, dấm… Nhưng chẳng ăn thua.

Ba năm trôi qua mà vườn táo không thuốc trừ sâu của ông Kimura không thấy dấu hiệu khả quan nào. Thực tế là mỗi ngày một tồi tệ hơn khi cây héo úa và mất hết sức sống.

Ba năm là một khoảng thời gian dài, nhất là đối với một gia đình làm nông mà thu nhập chủ yếu đến từ việc bán táo. Không tiền, ông Kimura phải bán dần mọi thứ trong nhà đi để đầu tư vào vườn. Gia đình nghèo khổ đến nỗi tiền đóng học và mua đồ dùng học tập cho các con cũng không có. Cơm cũng không đủ ăn. Chỉ có quyết tâm làm nông nghiệp không hóa chất của ông là vẫn còn cháy bỏng.

Nhưng đối chọi với sâu bệnh dù nhiều còn thấy đỡ. Đối chọi với ánh mắt xa lánh của người thân, cái nhìn giễu cợt của hàng xóm hay thậm chí là khinh bỉ của người trong vùng mới là điều đáng sợ nhất. Khuyên nhủ mãi không nghe, người ta bắt đầu gọi ông Kimura là “kẻ phá gia chi tử”, một từ mang ý nghĩa rất xúc phạm ghê gớm. Để tránh nhìn thấy cảnh ấy, ông Kimura thường lên vườn từ lúc mọi người chưa ngủ dậy và trở về nhà khi mọi người đã ngủ say. Do đã bán xe nên ông phải đi bộ ra vườn, mỗi lần đi về mất 2 tiếng đồng hồ.

Để có tiền cho gia đình, đến mùa đông khi tuyết rơi dày, công việc làm nông tạm nghỉ, ông Kimura lên phố tìm việc làm thêm. Ông làm đủ thứ nghề từ thấp hèn nhất miễn là có tiền phụ giúp gia đình. Nhưng tiền làm thuê cũng chỉ cố gắng duy trì cuộc sống đã quá nghèo khổ của gia đình ông mà thôi. Có lần trong lúc đang làm thêm ở quán rượu, ông bị xã hội đen đánh cho rụng cả răng.

Đã sáu năm trôi qua kể từ khi ông Kimura trồng táo không thuốc trừ sâu (ông vẫn bón phân hữu cơ), vườn táo vẫn thảm hại. Vườn bế tắc. Gia đình điêu đứng. Niềm tin và ý chí đã lụi tàn. Ông Kimura tìm đến cái chết.

Ông đêm theo sợi dây và tìm đường lên núi Iwaki để tự tử vào một đêm trăng sáng. Nhưng khi quăng sợi dây lên để buộc vào cành, sợi dây trượt văng ra xa. Nếu cú ném đó thành công, có lẽ thế giới này không biết đến những trái táo thần kỳ của Kimura ngày nay. Và phương pháp trồng táo không hóa chất có lẽ rất lâu sau mới có người làm thành công.

Trong lúc tìm sợi dây, ông Kimura chợt sửng sốt khi nhìn thấy một cây táo xanh tốt dưới anh trăng. Không thể tin được. Giữa rừng thế này mà lại có một cây táo mọc xanh tốt. Chắc là nó không dùng thuốc trừ sâu! Ông đến gần, hóa ra không phải cây táo. Nó là một cây dẻ. Tất nhiên rồi. Táo ở đâu mà mọc trên núi thế này.

Nhưng không vì thế mà ông Kimura thấy thất vọng. Cái mà ông nhìn thấy không đơn thuần chỉ là cây táo. Ông nhìn thấy một cái cây xanh tốt mà không dùng thuốc trừ sâu. Thậm chí là không dùng phân bón nữa. Và thậm chí là cả không làm cỏ nữa. Mọi thứ nó cứ thế mà phát triển. Như một tiếng sét vang lên giữa trời xanh, ông Kimura dường như đã khám phá ra bí mật để trồng táo không hóa chất.

Dùng tay, ông nhổ cỏ quanh gốc cây dẻ và đào xuống lớp đất xốp bốc lên mùi ngai ngái. Thậm chí ông cho cả nắm đất vào mồm mà cảm nhận. Phải, đây chính là bí mật của nông nghiệp không hóa chất. Lớp đất mềm này có được là nhờ cỏ làm tơi xốp, giúp rễ cây xuyên sâu hơn vào đất. Rễ cây khỏe mạnh thì cây càng khỏe mạnh. Cây càng khỏe mạnh thì càng chống chịu tốt hơn với sâu bệnh. Cũng hệt như con người.

Khoảnh khắc nhìn thấy cây táo (thực ra là cây dẻ) đã cứu ông Kimura, và cả vườn táo nữa. Ông ngưng bón phân hữu cơ, ngưng phát cỏ dại trong vườn và trồng đậu để giúp phát triển hệ vi sinh vật trong đất đã bị ảnh hưởng bởi nhiều năm phun thuốc trước kia chưa thể phục hồi.

Vườn cây trở thành thiên đường cho đủ loại côn trùng sâu bệnh, ong bướm chuột, rắn… đến sinh sống. Và quả thực, dù không quá nhanh nhưng tình trạng vườn táo đã được cải thiện đáng kể.

Năm thứ hai sau khi gieo đậu tương và để cỏ dại mọc trong vườn, lá táo ra vào mùa xuân và không bị rụng tới tận mùa thu. Và đến đầu xuân năm sau nữa, những cây táo đã ngừng sinh trưởng mấy năm đã dài thêm chừng 10 cm.

Và ở lối vào vườn, một cây táo đã nở hoa! Những 7 bông hoa trên một cây, trong một vườn còn 400 cây táo khỏe mạnh trong tổng số 800 cây kể từ lúc đầu, sau 8 năm rồi.

Chỉ có 2 trong số 7 bông hoa đậu trái.

Ngày thu hoạch táo, ông đem hai trái táo dâng lên bàn thờ thần, rồi sau đó mọi người trong gia đình cùng ăn.

Khỏi phải nói, chúng ngon đến kinh ngạc.

Năm thứ 9. Hoa táo nở trắng vườn. Và mùa thu năm đó, gia đình ông Kimura thu được cả núi táo, hoàn toàn không hóa chất.

Dù còn thêm một vài năm khó khăn nữa nhưng đoạn kết của câu chuyện này thì mọi người cũng đã biết hoặc đoán ra rồi. Táo của ông Kimura giờ nổi tiếng khắp thế giới và muốn mua cũng không dễ. Fax đặt hàng đến nhà ông liên tục và dày hàng mét trên bàn và còn lâu ông mới giải quyết hết. Thậm chí một nhà hàng ở Tokyo chỉ bán một món duy nhất là “Súp táo Kimura” mà muốn ăn bạn phải đặt trước ít nhất nửa năm.

“Quả táo thần kỳ của Kimura” là một cuốn sách truyền cảm hứng không chỉ cho những người đam mê nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tự nhiên mà còn với mọi người.

Và như đã hứa ở phần đầu, trong phần tiếp theo tôi sẽ nói thêm về những chi tiết mà đọc xúc động rơi nước mắt. Bạn đón đọc nhé!

KIỂM TRA AN TOÀN THỰC PHẨM KIỂU NÀY LÀ GIẾT CHẾT DOANH NGHIỆP!

Mình không có ý định binh cho nhà hàng cơm tấm Kiều Giang vì cơ quan chức năng chưa kết luận.

Nhưng cơ quan quản lý cứ đi kiểm tra rồi kéo theo báo chí là giết doanh nghiệp. Bởi ngoài việc nhìn và ngửi, tài thánh các ông cũng không biết trong các bao nguyên liệu kia nó là chất gì, có phải là chất độc hay không. Thế nhưng qua tay báo chí thì nó sẽ là không rõ nguồn gốc, nhân viên không trả lời được… Dưa chua cũng có thể hiểu là rau bốc mùi, nước có váng.

Người giữ các thông tin đó không phải lúc nào cũng ngồi ở quán đợi đoàn đến kiểm tra. Nhân viên nấu cơm họ chỉ biết nấu cơm còn đầu vào bộ phận khác lo. Đó là chuyên môn hóa, ai cũng chỉ cần làm tốt việc của mình là đc. Cũng như mấy em tính tiền ở quầy siêu thị ngày nay chỉ cần đưa mã vạch vào đầu đọc để tính tiền chứ chưa chắc đã biết tính toán.

Quán cơm phục vụ ngày cả ngàn xuất ăn thì nguyên liệu họ sẽ mua khác với mấy ông quản lý ngày ăn một hai bữa ở nhà nên đâu mua được mắm đóng chai 500ml hay từng gói hạt nêm 300g có thương hiệu. Đó là một ngành kinh doanh khác và bản thân các nhà sản xuất cũng có hàng chuyên cho các mục đích này cơ mà. Hàng đó đâu cần nhãn mác như gói trong siêu thị, miễn là đảm bảo chất lượng và hóa đơn chứng từ là được.

Vì vậy, hãy để cho doanh nghiệp người ta có cơ hội giải thích, có thời gian để đưa các hóa đơn chứng từ. Cơ quan nhà nước cần thời gian lấy mẫu và phân tích. Khi đó hãy kết luận đúng sai.

Vụ Con Cưng bắt đầu từ một khách hàng, nhưng vấn đề bị đẩy lên quá cao bởi cơ quan quản lý thị trường đi kiểm tra sau đó kéo theo báo chí. Và người đứng đầu đoàn kiểm tra đã phát biểu những thông tin lập lờ, chưa có kết luận chính thức. Giờ có nói lại thì mấy ai để ý, chỉ doanh nghiệp là thiệt thòi đủ đường. Cơ quan chức năng vô can.

Làm ăn bẩn, làm ăn gian dối xứng đáng bị trừng phạt và tẩy chay.

Cạnh tranh bẩn bằng cách bôi xấu, đánh lén, lợi dụng truyền thông và cơ quan nhà nước để triệt hạ đối thủ cũng cần lên án và xử lý.

Nhưng tởm nhất là cái kiểu nhận lương bằng thuế của dân, thuế của doanh nghiệp mà thỏa hiệp với những công ty, tổ chức để đi hại đối thủ cạnh tranh.

Note: Đến ngày 2-9, Cơ quan chức năng kết luận các chất lạ mà báo chí viết chỉ là hỗn hợp của đường và bột ngọt. Nhà hàng cơm tấm Kiều Giang chỉ bị phạt 2,5 triệu đồng vì các lỗi như nhân viên không đeo khẩu trang khi nấu ăn và khu chế biến thực phẩm có ruồi.

Thế nhưng những thông tin về “chất lạ” mà báo chí đưa ra trước đó đã làm nhà hàng này thiệt hại nặng nề khi lượng khách giảm tới hơn  50%.

Scroll To Top